Lấy Bồ-đề t m l m điểm then chốt, qu tr nh tu tập của h nh giả Đại thừa bắt đầu v triển khai từ đ . Từ lập trường n y, Bồ-đề t m (bodhicitta; 菩提心) chiếm giữ một vị tr độc đ o trong tư tưởng Đại thừa (Mahāyāna; 大乘). Nhưng c c t c phẩm chuy n biệt về Bồ-đề t m bằng Phạn ngữ nguy n bản phần lớn nay đều bị thất lạc; mặt kh c, c nhiều luận tập (prakarana; 論) được t m thấy trong H n tạng v Tạng ngữ, để tiếp cận kho t ng ấy cần phải d nh nhiều thời gian c ng c ng phu lao nhọc.
Trong H n tạng c một luận tập (Prakaraṇa) n i về Bồ-đề t m, nhan đề Ph t Bồ-đề t m kinh luận (Bodhicittotpāda-sūtra-śāstra; 發菩提心經論). T c giả l Bồ-t t Thế Th n (Vasubandhu; 世親, khoảng 280-360 Stl), v dịch giả l sa-m n Cưu-ma-la-thập (Kumārajīva; 鳩摩羅什, khoảng 381-417 Stl). Khoảng c ch giữa thời gian trước t c v thời gian dịch thuật chừng một thế kỷ, kh ng qu xa để c thể ph t sinh sự nghi ngờ về những xen tạp th m thắt sau khi t c phẩm được truyền b rộng r i. Do đ , c thể suy định rằng t c phẩm n y khi đến tay Cưu-ma-la-thập th vẫn c n bảo lưu ở mức rất lớn h nh th i nguy n bản.
Luận sư Thế Th n (Vasubandhu; 世親) l bậc thượng thủ với c ng tr nh giải th ch v triển khai trọn vẹn c c đề t i triết học Phật gi o. Những ai đ từng đọc Th nh duy thức luận (Vij aptimātratāsiddhi ) v A-t -đạt-ma C u-x luận (Abhidharmakośa) hẳn sẽ kh ng nghi ngờ nhận định n y.
V o thời của Ng i, c c đề t i triết học thường được tr nh b y v xiển dương dưới h nh thức kệ tụng (kārikā). Lối tr nh b y một đề t i bằng kệ tụng vốn khởi đầu từ thời Long Thọ (Nāgārjuna). C c kệ tụng được cấu tạo tương tự như kinh văn (sūtra), trong một số lượng từ ngữ hạn chế, v vậy tất yếu phải được khai triển th m bằng sớ giải (vṛtti) v luận th ch (bhāṣya). Cả hai t c phẩm triết học của Thế Th n l Th nh duy thức luận (Vij aptimātratāsiddhi) v A-t -đạt-ma C u-x luận (Abhidharmakośa) đều theo h nh thức kệ tụng (kārikā), v đều đ được soạn sớ giải v ch th ch.
Nhưng t c phẩm Ph t Bồ-đề t m kinh luận n y lại kh ng theo thể kệ tụng. To n bộ t c phẩm được viết bằng văn xu i, theo phong c ch đơn giản của c c trước t c Đại thừa. C lẽ v l do n y m trong H n dịch được gọi l Ph t Bồ-đề t m kinh luận. X t từ phương diện triển khai nội dung, n l một śāstra (luận); nhưng v h nh thức phần nhiều theo phong c ch sūtra (kinh), ng n ngữ giản dị, n n cũng c thể gọi l một kinh văn.
Ho n to n c khả năng rằng nhiều tư liệu trong t c phẩm n y đ được tiếp nhận trực tiếp từ kinh điển, m kh ng n u r dẫn chứng. V điều n y c thể l nguy n nh n cho sự định danh "sūtra; kinh" của t c phẩm. Tuy nhi n, điều ấy vẫn chưa thể được khẳng định dứt kho t cho đến khi c một nghi n cứu đối chiếu so s nh cặn kẽ với c c kinh văn.
Bộ luận n y gồm mười hai phẩm. Ba phẩm đầu tạo th nh phần dẫn nhập.